Chống quân Nguyên Mông
Giữa kỵ binh trùng trùng điệp điệp, vạn quân cấp tốc chuyển di, Ngột Lương Hợp Thai cau mày khó chịu, cơn tức giận của lão bị kìm nén trong lòng khiến những con ngựa ở gần sợ hãi, chúng cắm cúi đi về phía trước, không dám thở mạnh một cái.
Vốn tưởng quân Đại Việt bại lạc tan tác, phải bỏ cả kinh thành mà chạy, chỉ còn mèo lớn mèo nhỏ hai ba con không đáng chú ý. Ngặt nỗi kinh thành trống rỗng, xung quanh thưa thớt chẳng có gì giữa mùa đông.
Hơn một tuần đánh cướp không đạt kết quả gì, lương thực dần cạn kiệt, Ngột Lương Hợp Thai đã định rút quân, chợt thám tử báo tin thấy vua nước Nam cùng thái tử thân chinh ngự thuyền, lão sai A Thuật phục kích định bắt sống, quân vừa ra khỏi doanh chợt nghe hàng ngàn tiếng hô đồng loạt như sấm dậy.
Biết đã trúng kế, A Thuật lui binh về, chợt kinh hoảng phát hiện, đâu đâu cũng là địch quân!
Tiếng tù và, chém giết vang vọng cả một góc trời, từ dưới đất có mấy ngàn quân địch đội đất chui lên như biết phép độn thổ, ra là đã mai phục từ lâu.
Cung nỏ từ trên cao bắn ra như mưa, mấy trăm kỵ binh bỏ mình ngay tại chỗ, từng bụi cỏ, gốc cây đều có người nhảy ra, kỵ binh Mông Cổ vốn giỏi bắn tên, song địch tập kích bất ngờ không kịp phản ứng, chân ngựa bị câu liêm móc ngã, bọn Thát tử ngã ngựa đầy đất, rối loạn cả đội hình, hoang mang chạy trốn.
A Thuật thầm chửi tám đời mấy trăm tên lính canh phòng, để quân địch trà trộn tới tận quân doanh mà không một ai hay biết, vội thúc ngựa vào binh doanh, thấy lửa cháy ngập trời, đâu đâu cũng có chiến đấu.
Kỵ binh An Nam ra vào như nơi không người, bắn nỏ như mưa, đao quang kiếm ảnh loang loáng, dũng mãnh vô song, gặt đầu người như cắt cỏ.
Quân Thát tử hầu hết đều trông cậy vào quân binh canh phòng, yên tâm ngủ say trong lều, khi bị tập kích không kịp mặc giáp, tay không chiến đấu, có thằng xui xẻo còn bị dẫm đạp, chết cháy ngay trong lều, tử trạng vô cùng thảm.
Tây doanh đã bị kỵ binh địch tàn sát hầu như không còn, nam doanh cũng bị mấy ngàn bộ binh tập kích, lều bạt đã cháy quá nửa, chỉ còn hai phía đông và bắc là còn có quân Thát cố gắng chống cự.
A Thuật tổ chức thân binh, phá vòng vây chạy về hướng bắc, hội họp với Ngột Lương Hợp Thai. Hắn gào lên:
– “Địch tập! Quân doanh đã mất, mau rút thôi!”
Ngột Lương Hợp Thai điểm lại tướng lĩnh, định đánh lui quân Đại Việt, nhưng sĩ khí tan rã, không tổ chức phản công nổi, kỵ binh càng ngày bị co cụm vào góc đông bắc, tên bắn tới như mưa, không sao triển khai trận thế được.
Chợt có tin cấp báo, bến thủy phía Đông đã bị chiếm giữ, quân Đại Việt từ chiến thuyền đổ bộ lên bờ, đông nghìn nghịt, dễ phải mấy chục vạn.
Ngột Lương Hợp Thai tức giận bẻ gãy một mũi tên, nếu quân Mông Cổ không cạn lương thiếu ăn, sức cùng lực kiệt, lơ là canh gác, làm gì quân An Nam lại dạ tập phóng hỏa, hủy đi doanh trại dễ dàng đến thế? Đại thế đã mất, binh bại như núi đổ, lão đành ra lệnh rút lui khẩn cấp, cho quân Đại Lý đoạn hậu.
Chợt thấy một đội du kỵ lao như thần tốc, thế như du long luồn lách, tả xung hữu đột như một mũi tên sắc bén, không ai cản nổi. Một viên tướng cầm thương và khiên đi đầu, tên bắn như mưa đều bị gạt đi cả. Ngột Lương Hợp Thai hỏi:
– “Hắn là kẻ nào, mà dũng mãnh như vậy?”
Một vị tướng nói:
– “Đó là Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư quân An Nam. Hắn có môn Vạn Kiếp Thương Pháp tung hoành chiến trường, lập nhiều chiến công.”
Ngột Lương Hợp Thai nói:
– “Được! Ai giết được Trần Khánh Dư, lập tức thưởng hoàng kim trăm lượng, quan thăng một cấp!”
Quân Thát tử xông lên, đông nghẹt như nước lũ, chỉ thấy Trần Khánh Dư giơ tay lên, vút một cái, phóng cây thương lao xé gió tới thẳng chỗ Ngột Lương Hợp Thai. Một lão tăng cao gầy mặc hoàng bào nhảy từ lưng ngựa lên, tung một chưởng tính chụp cây thương, một luồng kình lực xoắn ốc từ trong đó truyền vào khiến lão không thể khống chế, đành chấn nội lực đánh bay nó đi. Lão nói:
– “Nước Nam quả lắm nhân tài, nội lực thâm hậu đến thế này, trên đời hiếm gặp! Nếu không có quân lệnh tại thân thì lão phu đã thỉnh giáo một phen!”
Lão tăng đó chính là Kim Luân Pháp Vương. Sau khi bị Dương Quá và Tiểu Long Nữ đánh bại, lão khắc khổ tu luyện, đạt tới tầng thứ 10 trong Long Tượng Bát Nhã Công, thành cao thủ thượng thừa. Đại Hãn Mông Kha có lệnh nam chinh, lão theo quân Mông Cổ xuôi nam đánh bại Nhất Dương Chỉ họ Đoàn, thu nạp một tên đệ tử mới, vô cùng hài lòng. Nay trong quân địch có đại tướng võ công cao siêu, Kim Luân Pháp Vương ngứa ngáy thân thủ, muốn thử đơn đả độc đấu so tài võ nghệ, ngặt nỗi quân Đại Việt đông quá, ở lại chỉ có thể bị bắt sống.
Trần Khánh Dư thấy đột kích trảm thủ thất bại, địch quân đông đúc vô cùng, bèn dẫn quân đánh ra, bên Mông Cổ chưa kịp khép vòng vây, đành trơ mắt nhìn kỵ binh tinh nhuệ của người rời đi.
Quân Mông Cổ dẫm đạp nhau qua sông, chết nhiều không kể xiết. Quân Đại Việt đuổi theo, nhưng thấy binh đoạn hậu toàn xé hết cả ống tay áo, biết là quân Thoán Bặc của nước Đại Lý nên chỉ hò hét rầm trời, khua binh khí vào nhau hư trương thanh thế, chứ không thống hạ sát thủ. Quân Đại Lý vô cùng cảm kích, tự quay sang đánh nhau chí chóe cho ra vẻ thương tàn, tiếng hò hét, chém giết vang cả một góc, bọn Thát Tử nghe tiếng từ xa cứ tưởng đánh nhau thảm liệt lắm, mừng thầm vì hai nước tương tàn để chúng có cơ hội đào thoát.
Rạng sáng, Ngột Lương Hợp Thai chạy tới bến Nhị Hà, nhìn địa thế hai con sông, lão định cho quân theo đường cũ, vì Mã Giang nhỏ hơn, dễ làm cầu hơn. Bỗng mũi tên từ đâu phóng tới như mưa, che kín cả bầu trời, quân tiên phong Thát tử mười phần chết chín. Bên kia sông đâu đâu cũng có người, che kín hết cả bờ sông. Một cánh kỵ binh từ trên núi ập xuống, giương cao lá cờ ghi chữ Phùng, xông thẳng vào quân Mông Cổ.
Địch quân công kích từ trên cao xuống, có lợi thế về địa hình, Ngột Lương Hợp Thai còn chưa kịp thở lấy hơi, đã thấy đâu đâu cũng là địch. Phía sau còn có truy binh. Lão sợ hãi nói:
– “Binh mã của chúng ở đâu ra mà nhiều thế!”
Phía đông nam có truy binh đuổi gấp, mạng tây bắc bằng phẳng dễ đi, nhưng quân địch bên kia bờ bắn tên rát quá, quân Mông Cổ không sao vượt sông nổi. Phía bắc thì có quân tập kích họ Phùng, bọn Thát tử không còn đường nào để đi ngoài Hồng Hà phía tây, sông sâu nước xiết cuộn trào, trông thủy thế mãnh liệt lắm.
Ngột Lương Hợp Thai cắn răng ra lệnh thả cách nang – da dê thuộc làm cầu, thứ này rất quý hiếm với dân du mục, lòng lão như chảy máu nhưng không còn cách nào khác, có mạng để chạy còn hơn là không còn.
Đại quân Mông Cổ chạy hàng mấy tiếng liền, tới tận khi mặt trời đứng bóng mới thoát được truy binh. Người ngựa đều mỏi mệt, nhưng phía sau trống trải, nếu dựng trại nghỉ ngơi thì truy binh chẳng mấy chốc sẽ đến. Ngột Lương Hợp Thai nói:
– “Trước mặt có ngọn đồi cao, vượt qua nó, chúng ta có thể yên tâm hạ trại. Tiến lên!”
Đoạn tập trung quân Đại Lý lại thúc ra phía trước làm quân tiên phong khổ lao, chặt cây làm đường, dò la cạm bẫy.
Khi đến Đại Việt, vua nước Đại Lý bị bắt làm tù binh, cùng 2 vạn quân làm công binh nô lệ, bị ngược đãi tàn nhẫn. Vì muốn bảo toàn tính mạng, quân Đại Lý chỉ có thể nhẫn nhục làm khổ công, lấy thân mình làm khiên chắn cho quân Mông Cổ.
Sau khi Cao Thái Xuân truyền tin cho Đoàn Hưng Trí, quân Đại lý dù bị chia cắt ra khắp nơi, bị đối xử tệ hơn cả súc vật, nhưng họ bắt đầu truyền tin cho nhau bằng tiếng dân tộc thiểu số, tiếng lóng, ai nấy bảo nhau xé ống tay áo hết cả, quân Mông Cổ có nghi ngờ thì cũng chẳng hiểu việc để tay trần giữa mùa đông thì có ích lợi gì.
Vì không được cầm binh khí nên không thể chống lại bọn Thát tử, nhưng thừa lúc loạn lạc chạy mất thì quá dễ dàng. Bởi vậy khi quân doanh bị tập kích lúc nửa đêm, gần vạn người Đại Lý nhân cơ hội chạy hết sang hàng ngũ quân Đại Việt, cầm vũ khí lên trả thù bọn Mông Cổ, thành thử bộ binh tập kích lúc đầu chỉ có mấy ngàn, về sau lên thành vạn người đánh giặc, bởi thế bọn Thát tử hoảng hồn khi đâu đâu cũng thấy địch nhân.
Tới khi Mông Cổ bại lui ở Nhị Hà, quân Đại Lý kêu la ầm cả góc trời, tay không chống chọi với truy binh, thực chất là đánh nhau giả vờ, toàn bộ quân Thoán Bặc đoạn hậu đều gia nhập hàng ngũ Đại Việt cả rồi!
Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư vô cùng khôn khéo, khi trời hửng sáng, người ra lệnh cho quân Đại Lý lăn cả ra, vờ như chết trận, tránh cho quân Thát biết được bên trong có trá, phát hiện ra mánh khóe của Đoàn Hưng Trí.
Thành thử Ngột Lương Hợp Thai không sao biết được, chỉ thấy thám tử báo về quân Đại Lý đoạn hậu chết cả rồi, gom góp tất cả chỉ được 1 vạn, kỵ binh Mông Cổ chỉ còn 1 vạn, tổn thất một trận Đông Bộ Đầu hơn một nửa binh lực, trong lòng lão thấy bàng hoàng vô cùng. Cả cuộc đời chinh chiến, chưa bao giờ Ngột Lương Hợp Thai bị thua nhục nhã và chóng vánh như vậy.
Thám tử trở về báo tin, trước ngọn đồi là một bãi đất đá lổn nhổn cao ngang đầu người, có nhiều chiếc xe chất bao đất, bao cát bị vứt ở đó, không hiểu ra sao cả, trông như một mê cung, dài gần một dặm.
Kim Luân Pháp Vương nghe đến đó, liền nói:
– “Không được, đó là trận pháp, không thể đi vào!”
Ngột Lương Hợp Thai ngưng trọng quát:
– “Bắt bọn Di tử vào xem!”
Quân Đại Lý tay không tấc sắc, bị ra lệnh phải đi vào ‘Loạn Thạch Trận’, bọn họ thận trọng đi vào, những hòn đá cao không quá đầu, nên dễ dàng tìm thấy lối ra. Chỉ một lúc là qua được, không thấy có khó khăn gì.
Ngột Lương Hợp Thai nói:
– “Quốc sư quá lo rồi, xem ra chẳng có gì cả.”
Liền giục quân Thát đi qua. Kỵ binh tầm mắt còn cao hơn, lối ra như ngay trước mắt, chẳng có khó khăn gì. Đi tới gần hết trận đá, tiếng hô nổi ầm lên, hàng ngàn người từ dưới đất đội cỏ đứng dậy, hai bên đồi cao mũi tên lao vút trong không khí, bắn xuyên người và ngựa, từng đội sĩ binh xuất hiện sau rừng cây, cầm khiên xếp vào nhau, chĩa giáo ra ngoài, chỉ để hở phần chân, trông như cái mai rùa.
Ngột Lương Hợp Thai đứng ở ngoài trận, mắng to một tiếng khốn kiếp, lệnh cho kỵ binh quay lại nhưng không còn kịp, chỉ thấy cờ hiệu trên đồi phất tứ tung, cảm tử binh lao ra đẩy xe chặn đường, những đội binh hình mai rùa di chuyển vào chỗ, sau đó cùng ngồi xuống, không còn kẽ hở nào.
Kỵ binh bắn tên liên tục, nhưng không xuyên qua được những bao đất cát trên xe, lại càng không thể phá được ‘thuẫn quy’. Lối ra không còn, trận pháp biến đổi khiến chúng quay cuồng, không còn phân biệt được phương vị, chạy loạn khắp nơi, nhưng chỉ vòng về chốn cũ. Càng di động càng loạn, một số tên kỵ binh lạc bầy liền bị câu liêm móc chân ngựa, ngã lăn ra đất, sau đó bị các ‘thuẫn quy’ chém chết tại chỗ.
Các danh tướng vô cùng kinh hãi, không biết quân An Nam biết dùng trận pháp huyền diệu như thế này từ bao giờ, trong trận chuyển di liên tục, bất kỳ đội binh nào xông vào muốn phá trận đều bị lạc theo trong đó, quân địch bắn tên từ trên đồi xuống không ngừng, mấy ngàn kỵ binh trong trận chỉ còn mấy trăm binh mã chạy trở ra, ai nấy đều kinh hãi tột độ, sĩ khí xuống tới mức đóng băng.
Mấy lần cho quân xung kích ‘Loạn Thạch Trận’ đều thất bại, nhìn trận đá chặn đường mà lòng Ngột Lương Hợp Thai như lửa đốt, lão biết truy binh Đại Việt sớm muộn gì cũng tới đây, bị cầm chân ở đây chỉ có con đường chết. Biết quân Đại Lý có dấu hiệu ngầm, lão ra lệnh:
– “Bắt mười tên Di tử ra đây.”
Mười tên Đại Lý bị đưa ra, Ngột Lương Hợp Thai quan sát rồi nói:
– “Lệnh cho tất cả xé hết ống tay áo đi, để tay trần giống bọn Di tử.”
Sau đó lão lệnh cho kỵ binh xuống ngựa, trà trộn vào số quân Đại Lý còn sót lại, hòng qua được ‘Loạn Thạch Trận’ này.
Bỗng một tên Đại Lý nhảy vọt qua hàng ngũ thân binh, hoắc một cái chém chết hai tên danh tướng, đao ảnh loang loáng, xem chừng là cao thủ nhất lưu, hướng thẳng về phía Ngột Lương Hợp Thai.
A Thuật móc đao ra, vung múa liên tiếp, tựa như con linh xà, mũi đao hướng sang bên phải, xoáy đao lại đâm chếch qua bên trái, góc độ vô cùng xảo trá.
Kẻ tập kích phạt ngang con đao, rung động tay mấy cái, nội lực xô ra bốn phương tám hướng, hất ba tên danh tướng ra, sau đó chớp mắt chém trên ba đao, dưới ba đao, chặn đứng đao thế của A Thuật.
Đao pháp của kẻ đến cực nhanh, A Thuật chỉ kịp đón đỡ ba đao trên, còn ba đao dưới thì hắn đành vận lực nhảy lên, đao quang lướt qua gót chân của hắn, thoát chết trong đường tơ kẽ tóc.
Kẻ lạ mặt chếnh thẳng đao lên đâm vào đan điền A Thuật, thế Thiên Đao Vọng Nguyệt, mạnh không thể cản. A Thuật thu đao về thế Hãn Mã Hồi Gia, dồn hết cả công lực vào hai tay, chỉ nghe keng một tiếng, thanh đao trong tay gãy làm đôi, mảnh đao cắm vào bụng hắn.
A Thuật còn ở giữa không trung, kẻ lạ mặt giơ 3 ngón tay như ưng trảo, móc ngược lên hạ bộ hắn, chiêu này trúng phải thì không chết cũng tuyệt hậu. Chỉ thấy một bàn tay đánh ra, hóa chưởng thành trảo, chặn lại thế công của kẻ lạ mặt, là Kim Luân Pháp Vương kịp thời cứu nguy, lão đẩy một chưởng hất A Thuật ra xa, nói:
– “Cao thủ, mời báo tính danh!”
Hạ bàn kẻ lạ mặt trầm xuống, chém một đao trăng tròn che mắt, tay điểm liên tiếp các huyệt Xích Thốn, Bí Huyễn, Mạnh Tuế, Án Dư, Khô Thôn trên hai chân Kim Luân Pháp Vương, nói:
– “Ta là Hà Bổng, tới đây lấy mạng Ngột Lương Hợp Thai!”
Kim Luân Pháp Vương lui tránh đòn điểm huyệt, thầm nghĩ võ công An Nam thật kỳ lạ, sao hắn lại chỉ đánh hạ bàn? Khổ nổi vũ khí của Kim Luân Pháp Vương là kim luân, ngắn hơn đao nhiều, chiến đấu cứ phải cúi gập người rất bất tiện và khó phát lực, thành thử Hà Bổng chém ra hơn mười chiêu hạ bàn đao pháp, Kim Luân Pháp Vương phải lui tránh liên tục.
Tới chiêu thứ mười, thấy khí thế kẻ địch dần suy yếu, Kim Luân Pháp Vương chập kim luân và ngân luân vào nhau, muốn so tài công lực.
Đao chém rất ác, cương mãnh, thẳng tiến hạ âm, Kim Luân Pháp Vương thầm vận sức đề phòng, chẳng ngờ nửa đường Hà Bổng bỏ đao, song vuốt ưng trảo chộp lấy khuỷu tay Kim Luân Pháp Vương.
Cao thủ so chiêu không dễ gì bị người khống chế, Kim Luân Pháp Vương hất song luân lên, ý đồ cắt đứt song trảo của Hà Bổng. Không ngờ bộ pháp Hà Bổng quỷ dị cực điểm, hai chân đi ngang như cua bò, lảo đảo như say rượu, xiêu vẹo ngã xéo về sau mà thân người lại phóng lên trước, song luân đánh hụt, Kim Luân Pháp Vương giật mình thấy hai khuỷu tay đã bị điểm trúng, tê rần mất khống chế, lão nói:
– “Hảo bộ pháp!”
Tiếng lão vang như sấm, như công phu ‘Sư Hử Hống’ khiến cả Ngột Lương Hợp Thai và các danh tướng ở gần đầu váng mắt hoa, suýt nữa vỡ tai vì tiếng hét bất ngờ. Hà Bổng chịu không nổi đành buông tay, điểm thẳng vào huyệt Uyên Dịch ở mạn sườn Pháp Vương, bộ pháp đi ngang như ‘Cua Say Rượu’ của ông vô cùng nhanh nhẹn, thoáng chốc lùi về phía Ngột Lương Hợp Thai. Kim Luân Pháp Vương bị điểm huyệt, toàn thân vô lực, trơ mắt nhìn theo mà không làm gì được.
Mấy tên danh tướng rút đao chém nhưng Hà Bổng quá thấp bé nhanh nhẹn, quy luật không nắm bắt nổi, mấy thanh đao toàn chém hụt xuống đất cả.
Bọn thân binh xúm lại bao quanh Ngột Lương Hợp Thai, mắt thấy Hà Bổng không còn cơ hội hành thích, bỗng hai chân ông chụm lại, nhảy một phát xoáy tròn trên không trung, tay tung chưởng, hai chân đá liên hoàn, mấy tên thân vệ cản đường trúng mười mấy chưởng, cước cùng lúc, ngã lăn ra hết.
Ngột Lương Hợp Thai súc thế đã lâu, nhân dịp Hà Bổng còn ở trên không lực cũ đã hết lực mới chưa sinh, rút đao ra chém một thế ‘Hoành Sơn Nhất Kích’, chẳng ngờ xoáy lực của chiêu ‘Phi Thiên Bài Phong’ của Hà Bổng vô cùng mạnh mẽ, đôi thiết thủ đẩy dạt đao thế ra, một luồng dư kình chấn thẳng vào hai tay Ngột Lương Hợp Thai, buộc lão phải buông đao.
Đao vừa rời tay, Ngột Lương Hợp Thai biến chiêu, tung hai tay ra, song chưởng vươn dài, nội lực trào ra, gạt song trảo của Hà Bổng, bắt lấy cổ áo, ném một thế ‘Bộc Tích’.
Người Thát sinh ra trong nơi giá lạnh, học bò với cưỡi ngựa cùng một lúc, thân thể rất dẻo dai và vạm vỡ, tu luyện ngoại công tới tối cường. Võ Mông Cổ chú trọng về quật, ném, cường kình cực mạnh, mỗi đòn đủ để đánh thịt nát xương tan kẻ địch.
Đòn này đã được Ngột Lương Hợp Thai luyện tới lô hỏa thuần thanh, hai cánh tay nắm lấy áo vung mạnh, tấm lưng Hà Bổng chỉ chút nữa là chạm đất, không tan xương cũng vỡ nội tạng. Chỉ thấy Hà Bổng ưỡn cong người, hai chân chạm đất trước, dạng ra như chân cua, thân hình xoắn vặn tiêu hao lực ném, một tay rút ra cây dao mèo chém vào tay địch, tay còn lại tung ra sát chiêu ‘Tam Chỉ Tam Lý’, điểm thẳng vào huyệt Đản Trung, Cưu Vĩ, Cự Khuyết, đây là tam đại tử huyệt, chỉ cần trúng ắt sẽ tử vong.
Cường lực cực mạnh truyền khắp toàn thân đã bị Hà Bổng vận dụng xảo kình truyền xuống hết hai chân, Ngột Lương Hợp Thai chỉ thấy hai tay như nắm phải một đoàn bông nhẹ không có chút sức nặng nào. Chủy thủ đã tới sát gần, lão thu tay lại dùng cùi chỏ đỡ chiêu ‘Tam Chỉ Tam Lý’, móc ưng của Hà Bổng đụng thế ‘Tiệt Chi’ của lão, cương kình chạm nhau, hai tay tê rần, Ngột Lương Hợp Thai bị đẩy mạnh, mất thăng bằng ngã ra sau.
Không bỏ lỡ cơ hội, Hà Bổng phóng luôn cây dao mèo trong tay, thi triển bộ pháp sấn tới, thi triển sát chiêu ‘Trửu Kích Hạ Âm’, một tay móc thẳng vào huyệt Khúc Cốt ở bụng dưới kẻ địch.
Một cây đao phóng tới, đánh bay cây dao, ánh sáng lóe lên, giữa ban ngày rất dễ thấy, Hà Bổng đành phải thu chiêu, né qua một bên, nhìn kỹ lại, là năm cây châm cắm trên mặt đất.
Bả vai trái tê rần, Hà Bổng biết mình đã trúng châm độc, vội nhổ châm ra, tự điểm mấy huyệt chặn đứng kinh mạch tay trái. Ông nói:
– “Nặc tha. Hôm nay không trả đư&