Gái Gú Việt Nam

Truyện Sex Tuổi 23

Phần 55

Nói một chút về người có nick name là Gabietbay. Hắn là người hâm mộ tranh của tôi, luôn ủng hộ tôi kể cả khi tôi vướng chuyện không hay lúc đi thi. Mỗi dịp rảnh rỗi, tôi và hắn luôn trao đổi chuyện vẽ vời. Nếu thằng Choác là bạn thân ngoài đời thực, thì Gabietbay là thằng Choác phiên bản thế giới ảo của tôi.

Hắn hơn tôi bốn tuổi, nhưng khi nói chuyện vẫn xưng “ông, tôi” như bạn đồng vai phải lứa. Gabietbay luôn nhờ tôi đánh giá tranh của hắn trước khi đưa lên diễn đàn. Hắn vẽ không thực sự đẹp, nhưng kiến thức về vẽ lại khá rộng nên mỗi lần trao đổi với hắn, tôi lại ngộ ra thêm điều mới mẻ. Mỗi tối, tôi háo hức nói chuyện với Gabietbay hơn là lên mạng đọc báo hay chơi game. Tìm bạn thân đã khó, tìm người tâm giao trong cùng một lĩnh vực khó gấp bội và tôi thấy mình may mắn khi tìm được tay này.

Nói chuyện với Gabietbay hơn hai năm, tôi biết được tên thật cùng địa chỉ nhà của hắn. Mấy lần tôi muốn về Hải Phòng chơi với gã mà chưa có dịp. Tôi thường đùa với Gabietbay rằng không dám về thành phố hoa cải vì sợ đạn lạc. Nhưng lần này dẫu đạn bay đì đùng khắp đường phố, tôi vẫn sẽ tới. Bởi lẽ tôi đang là kẻ không nhà.

Khoảng năm giờ chiều, tôi đặt chân xuống Hải Phong. Kỳ thực, thành phố này không dễ sợ như người ta tưởng tượng. Lúc ấy, vì quá mệt mỏi lẫn chán đời, tôi không để ý Hải Phòng trông ra làm sao. Nhưng trong trí nhớ của tôi, người dân nơi đây có gì đó khá đặc biệt.

Khi tôi hỏi đường, họ không tỏ thái độ nhiệt thành song hành động lại khác: chỉ dẫn khá tận tình, người nào không biết thì hỏi người khác giùm tôi. Địa chỉ nhà gã Gabietbay khó kinh dị, song nhờ họ, cuối cùng tôi cũng tìm được đến nơi. Cũng có thể hôm đó tôi gặp được toàn người tốt không biết chừng. Hoa cải… à nhầm, hoa phượng đỏ không tệ! – Tôi nghĩ.

Nhà của Gabietbay nằm trong con ngõ khá sâu. Ngõ sâu không phải vấn đề, vấn đề ở chỗ trước ngõ có một hàng bán trà đá và gã chủ quán trà đá thực sự hơi kinh dị. Gã gầy tóp, tôi mang tiếng “tóp” mà chưa tóp bằng gã, tay hơi khẳng khiu, mặt già đanh, ánh mắt đầy vẻ hiếu chiến. Con bà nó, vớ phải hoa cải thật rồi! – Tôi nuốt nước miếng, đoạn hỏi gã:

– Anh ơi cho em hỏi nhà này ở đâu ạ?

Trái ngược với bộ dạng của mình, gã chủ quán đáp lại khá nhã nhặn:

– Bạn hỏi có việc gì nhỉ?

– À, em là bạn của Gabietbay (chỗ này không nêu tên)! Em mới qua chơi…

– Bạn là bạn thế nào nhỉ? – Gã chủ quán hỏi vặn.

Tôi cảm giác có mùi gì đấy không ổn ở đây. Nghe nói đám giang hồ xứ này có đủ mọi trò moi tiền người lương thiện. Trách mình số xui, tôi bèn trả lời:

– À, em quen Gabietbay qua mạng. Em với anh ấy đều thích vẽ nên thi thoảng cũng nói chuyện với nhau.

Nghe tới đây, gã chủ quán trà đá bỗng mở lớn mắt:

– Là Boyteotop phải không? Từ Hà Nội xuống đây hả?

Nghe gã nói vậy, tôi bần thần một lúc rồi chợt hiểu vấn đề. Bạn tôi đây sao? Là cái thằng cha trông như nghiện này sao? Tôi nói:

– Thế anh là…

– Gabietbay đây mà! Bây giờ mới gặp mặt nhau nhỉ? Nhà tôi ngay trong này thôi, ông vào chơi nhé! Đợi tôi tí!

Hắn không đứng dậy ngay mà lúi húi lôi một đống thứ bên dưới gầm bàn. Tôi nhận ra nó là một chiếc xe lăn gấp. Gã dùng sức nhổm người từ ghế ngồi sang xe lăn rồi dắt tôi vào con ngõ nhỏ, vừa đi vừa cười:

– Sao ông đến mà không bảo tôi một tiếng? Biết thế hôm nay tôi nghỉ hàng sớm! Ông bảo chưa được ăn mấy món đặc sản Hải Phòng phải không? Yên tâm, nhà tôi có!

Hắn vừa lăn xe, vừa cười, trong ánh mắt không hề có lấy một tia nhìn bi quan. Nhìn hắn, tôi phấn chấn lên đôi chút.

Tôi đã nghĩ tuổi 23 của mình là cơn ác mộng.

Nhưng kia là bạn tôi. Hắn 27 tuổi và bị liệt, không thể đi lại bình thường.

Và cuộc nói chuyện giữa tôi và hắn đã thay đổi tất cả. Đó là một cuộc đối thoại không dài dòng lắm…

Hồi đầu năm, trong một buổi café trà đá, tôi và mấy thằng bạn có bàn luận chuyện Nick Vujicic sang Việt Nam. Ba đứa chúng tôi mỗi người một ý kiến riêng; tôi nghĩ anh ta muốn cổ vũ động viên những người đồng cảnh ngộ, thằng Choác thì nghĩ anh ta chỉ cố kiếm tiền, còn thằng Xoạch quả quyết nếu sinh ra ở Việt Nam, có lẽ giờ này Nick Vujicic đang lăn lộn bán vé số trên vỉa hè. Nhưng cả ba đều đồng ý rằng nếu chẳng may lâm vào hoàn cảnh của họ, chúng tôi sẽ tự sát ngay lập tức. Cơ thể đang lành lặn bỗng mất một bộ phận, thực là cơn ác mộng khủng khiếp.

Thật tình mà nói, trước đây khi thấy người khuyết tật, tôi đều tránh xa họ. Trong mắt tôi, họ như một chủng tộc khác vì một lý do rất đơn giản: họ tàn khuyết, tôi đầy đủ. Và bởi sự khác biệt, tôi lảng tránh họ. Nhưng bạn của tôi – Gabietbay lại là người khuyết tật. Dù mới chỉ nói chuyện qua mạng, thậm chí chưa biết mặt nhau, song sau những việc cùng trải qua lẫn chia sẻ trên diễn đàn vẽ, tôi coi hắn là người bạn thân thiết. Và khi đối diện người bạn với thân thể không lành lặn, tôi có cảm giác khó xử.

Để cho đơn giản, tôi sẽ gọi Gabietbay là Gà Bay (phân biệt với thằng Gà hồi cấp hai). Trước đây, Gà Bay chưa bao giờ nói cho tôi về hoàn cảnh đặc biệt của hắn. Mỗi khi tôi hỏi hắn đang làm ở đâu thì hắn chỉ trả lời là thất nghiệp, ngồi nhà bán trà đá. Hắn thất nghiệp thật, bán trà đá thật, nhưng hắn chưa từng nói tại sao mình lại như thế. Thời buổi này chẳng ai muốn thất nghiệp và bán trà đá cả. Nhìn tình cảnh của Gà Bay, tôi mới hiểu tại sao trong những bức ảnh offline của diễn đàn vẽ ở Hải Phòng không bao giờ có mặt hắn. “Vui thế, sao ông không đi?” – Tôi thường hỏi Gà Bay thế. Đáp lại, hắn chỉ ỡm ờ nước đôi, khi bảo nhà có việc, lúc nói bận trông hàng. Hắn thiếu thành thật, nhưng tôi nghĩ đó là quyền lợi chính đáng của hắn.

Tuy nhiên, Gà Bay chẳng bối rối khi tôi biết sự thật. Trên chiếc xe lăn, hắn vui vẻ dẫn tôi về nhà và không ngừng nói về chuyện vẽ. Hắn nói về tác phẩm của tôi, tác phẩm của hắn, của những thành viên trên diễn đàn. Hắn nói một cách say mê và có nghề:

– Ông thấy mấy thằng mới không? Chúng nó vẽ chán lắm, toàn bắt chước mấy tranh bên nước ngoài thôi! Còn lắm ông cứ tô màu bừa phứa rồi bảo đấy là ấn tượng với sáng tạo. Đan Mạch, nhìn không khác gì cái mớ tạp phí lù! – Gà Bay bức xúc nói, tay chém lia lịa như quạt gió – Đám cũ như ông với mấy thằng khác đi hết cả, chất lượng cái box xuống cấp thảm hại lắm. Chúng nó giờ lại vào tự bợ đít khen nhau nữa, khắm vãi luôn!

Tôi tặc lưỡi:

– Mỗi thời mỗi khác! Mà dạo này ông còn vẽ nữa không?

Gà Bay cười:

– Có chứ? Sao không? Tôi vừa vẽ mấy tranh mới, tí nhờ ông xem hộ!

– Mà ông bỏ hàng ngoài đấy à?

– Không sao! Mấy bà hàng xóm trông hộ rồi, em tôi đi học sắp về, tẹo nó ra trông ấy mà! À mà chưa hỏi, hôm nay ông rảnh à? Sao xuống Hải Phòng vậy?

Mỗi người có một bí mật. Tôi không muốn kể câu chuyện gia đình đáng xấu hổ cho người bạn mới gặp mặt, đành ậm ừ:

– Ờ. Mai thứ bảy, nghỉ mà. Đang rỗi, tiện xuống chơi với ông luôn! Biết nhau lâu mà chưa bao giờ gặp mặt cả.

Gà Bay cười. Hắn tiếp tục dẫn tôi vào ngõ rồi rẽ vào một con hẻm bên phải, đi thêm đoạn nữa thì dừng lại trước một căn nhà hai tầng. Nhà hơi bé, khoảng sân trước nhà chỉ rộng vừa đủ để đặt hai chậu cây cảnh cùng vật dụng bán hàng như ghế nhựa, một xô đựng cốc chưa rửa hay mấy két nước ngọt đựng toàn vỏ chai xếp chồng lên nhau và một cái bếp lò chưa nguội than.

Gà Bay lăn xe qua khoảng sân, mở cửa rồi gọi tôi vào. Bước qua cửa, nhìn ngắm nội thất căn nhà, tôi cảm giác như đang sống trong những thập niên 80, 90 của thế kỷ trước. Những thứ vật dụng thời bao cấp tồn tại một cách mơ hồ trong ký ức của tôi, giờ đang hiện lên sống động và chân thực hơn bao giờ hết. Từ chiếc tủ kính thấp chân đựng bộ cốc chén Liên Xô, con lật đật màu đỏ nằm ở góc tủ cho tới chiếc đồng hồ Gimiko đã mờ hết mặt treo trên tường (ít nhất thì chiếc tivi trên tủ kính là đồ mới). Nhưng thứ khiến tôi ấn tượng nhất là bộ bàn ghế, nó vốn có màu cánh gián, nhưng đã bạc màu sau hai chục năm cống hiến trong phòng khách. Dưới tấm kính ốp lên mặt bàn là những bức ảnh gia đình của Gà Bay. Trong thời đại này, những bức ảnh vừa quen, vừa lạ lại vừa quý giá. Tôi chỉ vào một bức và cười:

– Thằng vẹo này là ông à?

Trong ảnh là một thằng bé con trạc bảy, tám tuổi đang đá bóng trên bờ biển. Gà Bay ngó vào bức ảnh, trả lời:

– Ừ! Tôi đấy! Hồi ấy quậy lắm, suốt ngày nghịch với bóng thôi. Hồi ấy tôi hâm mộ đội Công an Hải Phòng nên muốn làm cầu thủ. Chuẩn bị xin vào lò đào tạo rồi ấy chứ…

Gà Bay bỏ lửng câu nói, sau quay vào nhà bếp, còn tôi ngắm nghía bức ảnh. Thằng bé trong ảnh có nước da ngăm đen đặc trưng của dân miền biển, ánh mắt sáng ngời, thân thể hoạt bát đầy sức sống. Hẳn đã có người nghĩ rằng khi thằng bé lớn lên, nó sẽ trở thành cầu thủ, hoặc không cũng trở thành thanh niên năng động. Chẳng ai nghĩ gần hai mươi năm sau, cuộc đời thằng bé ấy sẽ gắn liền với chiếc xe lăn. Nhưng thực tế đã xảy ra và tôi nghĩ không ít sự thất vọng từng bao trùm lên căn nhà này.

Nhìn ngang ngó dọc một lúc, tôi liền vào bếp và thấy Gà Bay đang lúi húi chuẩn bị đồ ăn. Hắn nói buổi trưa nhà vừa có cỗ, còn nguyên một đĩa nem cua bể chưa ai đụng đến. Hắn bảo tôi thông cảm vì gần nhà không có quán nào bán bánh đa cua – thứ tôi vẫn muốn nếm thử. Hắn lại gọi điện nhờ đứa em khi đi học về thì tạt qua tiệm mua ít bánh mì cay. Tôi cười, bảo trên Hà Nội không thiếu món đó. Gà Bay lắc đầu, nói rằng hắn từng lên Hà Nội và thấy món bánh mì cay ở đó chỉ là hàng nhái kém chất lượng. Đồ ăn xong xuôi, trong nhà lại có rượu, vậy là đủ cho một đêm nhậu nhẹt. Nhưng tôi thấy Gà Bay vẫn đang ngắc ngứ ở góc bếp. Tôi hỏi:

– Làm gì đấy ông?

– Nấu cơm cho em tôi

Gọi là “ngắc ngứ” vì thùng gạo hơi cao, đứng thì lấy dễ chứ ngồi hơi khó. Gà Bay phải nhổm cả người, một tay chống lên thành cái thùng, tay kia vớt lấy hơn một bò gạo (ai không biết thì một bò gạo tính bằng cái lon sữa ông thọ). Rồi sau đó, hắn ra ngoài sân vo gạo. Bởi không thể ngồi xổm nên hắn phải bắc thêm một cái đôn phía dưới vòi nước rồi đặt chậu rửa lên trên. Cũng vì không thể đứng nên hắn không dùng chậu rửa trong bếp. Trông hắn vo gạo, tôi liền hỏi:

– Ngày nào ông cũng nấu à?

– Ờ. Ông già thì bận suốt, có bao giờ ở nhà đâu? Vậy là tôi phải nấu thôi.

– Thế bà già đâu?

– Ly dị rồi. – Gà Bay đáp lời – Các cụ không ưa nhau. Sau khi tôi liệt khoảng ba bốn năm gì đấy, không nhớ nữa!

Nói rồi hắn cười. Cười không phải kiểu chua chát, nụ cười của hắn là kiểu chấp nhận những chuyện đã rồi. Hẳn còn nhiều lý do đằng sau vụ ly dị ấy và tôi rất muốn biết, nhưng sẽ tốt hơn khi cuộc sống này còn những bí mật.

Việc nấu ăn với Gà Bay cũng khá khó khăn. Tôi hỏi rằng có thể đỡ được cái gì không thì hắn từ chối. Tôi cười:

– Đan Mạch, ông chê tôi không biết nấu à? Tôi nấu cũng được đấy nhé!

– Không phải. Mấy cái này tự tôi làm, đơn giản ấy mà!

Vì không thể nấu bếp gas, Gà Bay nấu nướng bằng bếp than. Bếp gas để cao quá, hắn không với tới, có lần hắn cố thử đặt cái ghế con trên ghế xe lăn, phiền nỗi xe lăn không vững, nó trượt bánh sang một bên và hắn ngã bổ chẩng, suýt nữa gãy tay. Sau lần ấy, bố của Gà Bay không dám để hắn nấu bếp gas nữa. Chiếc bếp lò cũ mèm thuở nào được lôi ra dùng lại. Đã bước qua thập niên đầu tiên của thế kỷ 21, nhưng nhà hắn cứ đều đặn hai tháng lấy than một lần. Mỗi sáng, hắn lại thức dậy đun bếp và hiếm khi mượn ai làm thay, trừ hôm nào ốm quá không dậy được. Hắn vừa nấu vừa nói:

– Tôi không nấu được nhiều món. Mà nấu lại hay bị mặn! Con em tôi bảo cho nhiều muối quá! Mãi không sửa được!

Tôi cười:

– Mặn là được rồi! Mà ông nấu bếp than, hàng xóm không nói gì à?

– Hồi đầu thì có, sau thôi. Họ biết tôi bị thế này nên cũng thông cảm. Nhưng tôi đang tính nấu bếp từ, hơi tốn điện một tí nhưng đỡ ảnh hưởng. Bếp lò đun nước đun chè thôi!

– Ông mua bếp từ của thằng T